Advertisements
YellowCode.Books

Java Bài 42: Thread Tập 2 – Các Cách Thức Để Tạo Một Thread

Sau khi tập 1 về Thread ra lò, mình nhận được nhiều chia sẻ và phản hồi từ các bạn. Mình cảm nhận được mối quan tâm rất lớn của các bạn với kiến thức này. Điều này thật sự thú vị. Thực ra mình cũng từng rất thích thú khi tiếp cận với Thread. Tuy chỉ là một kiến thức nhỏ nhoi trong biển kiến thức Java, nhưng Thread như mang đến một làn gió mới, một khả năng mới để chúng ta xây dựng các ứng dụng đa nhiệm, mạnh mẽ, thiết thực hơn, tận dụng tối đa hiệu năng của hệ thống hơn. Và đặc biệt hơn nữa, sau khi biết đến Thread là gì, thì chúng ta đã có thể bắt tay vào tìm hiểu các kiến thức về xây dựng một game viết bằng Java được rồi đấy.

Vậy hôm nay, chúng ta sẽ tiếp tục củng cố cái sự quan tâm đối với Thread bằng cách đi cụ thể hơn về nó, chúng ta sẽ nói đến các cách thức để khai báo và khởi tạo một Thread.

Java Bài 41: Thread Tập 1 – Thread Và Các Khái Niệm

Thread hay Multithread đều có ý nghĩa như nhau trong kiến thức của bài học này. Thread dịch ra tiếng Việt là Luồng, và Multithread là Đa luồng. Luồng ở đây chính là Luồng xử lý của hệ thống. Và bởi vì lý do chính đáng để cho Thread ra đời cũng chính là để cho các ứng dụng có thể điều khiển nhiều Thread khác nhau một cách đồng thời, mà nhiều Thread đồng thời như vậy cũng có nghĩa là Đa Thread, hay Multithread. Chính vì vậy mà kiến thức Thread hay Multithread cũng chỉ là một.

Java Bài 40: Exception Tập 4 – Throw, Throws & Custom Exception

Bài hôm nay chúng đa đến với kiến thức còn lại của Exception. Bài học sẽ hướng dẫn bạn đạt đến một cảnh giới hoàn toàn không sợ sệt gì với Exception cả. Thậm chí bạn có thể “tung hứng” chúng, đẩy chúng về một nơi khác xử lý, và rồi bạn còn có thể tự tạo ra một Exception cho riêng bạn nữa.

Nếu bạn thấy thú vị thì mời các bạn cùng đến với bài viết.

Java Bài 39: Exception Tập 3 – Try Catch Và Hơn Thế Nữa

Thông qua hai bài viết về Exception, bạn đã phần nào yên tâm hơn cho “số phận” của các dòng code mà bạn tạo ra rồi đúng không nào. Sự thật là với việc sử dụng tốt try catch mà hai bài học trước mình đã nói rất kỹ, thì có thể nói ứng dụng của bạn sẽ trở nên rất mạnh mẽ, an toàn, và cũng khá thông minh khi có thể thông báo kịp thời các trường hợp lỗi cho user.

Tuy nhiên, nếu đã nói về Exception thì phải nói cho tới. Đừng lấp lửng nửa vời mà lỡ mất các chức năng đặc sắc mà công cụ này mang đến. Hôm nay chúng ta tiếp tục đào sâu về Exception khi nói về try catch với finally, try catch với resource, và các phương thức hữu ích của lớp Exception.

Java Bài 38: Exception Tập 2 – Bắt (Bẫy) Exception Thông Qua Try Catch

Ở bài hôm trước các bạn đã làm quen với khái niệm Exception, và thử tạo một vài Exception để cùng “xem chơi”. Tuy nhiên, cái chính mà Exception ra đời không phải để chúng ta chỉ đứng nhìn một cách “bất lực” như vậy đâu. Chúng ta hoàn toàn có thể đối mặt với Exception, bằng cách bắt lấy chúng, chặn chúng lại không để chương trình bị lỗi, và làm những gì chúng ta mong muốn, như bài trước mình có dùng từ “bẻ luồng”.

Như vậy, phần thứ hai của chuỗi bài về Exception hôm nay chúng ta nói đến các kỹ thuật để bắt các Exception này.

Java Bài 37: Exception Tập 1 – Làm Quen Với Exception

Trước khi bắt đầu đi chi tiết vào bài học, mình muốn các bạn biết rằng, ở đời không ai là hoàn hảo cả. Khi con người ta đủ lớn khôn, họ sẽ bắt đầu mắc lỗi. Điều quan trọng trong cuộc sống này là, không phải lúc nào bạn cũng cứ tránh xảy ra lỗi (vì nói thẳng ra là chẳng ai muốn dây vào lỗi hết), mà là nên học cách như thế nào đó để khi mắc lỗi rồi thì sẽ khắc phục và vượt qua lỗi lầm như thế nào thôi.

Ôi sao bài học hôm nay nặng triết lý quá vậy. Thực ra mình dẫn dụ tí cho vui. Đại ý của bài học hôm nay cũng sẽ gần như triết lý trên vậy. Tức là chúng ta sẽ xem xét đến một khía cạnh LỖI. LỖI ở đây là LỖI xảy ra trong các đoạn code mà chúng ta viết ra, một cách nghiêm túc và chuyên sâu.

Quay lại triết lý một chút, rằng một khi mà ứng dụng của chúng ta đủ lớn (cả về số dòng code lẫn tính năng), thì chắc chắn khi đó chúng ta sẽ khó kiểm soát được tính ổn định của logic ứng dụng. Và đến một lúc nào đó sẽ có LỖI xảy ra, LỖI nhẹ sẽ khiến hệ thống tung ra một số thông báo lạ lẫm đến người dùng, làm họ hoang mang, lỗi nặng hơn nữa sẽ làm cho ứng dụng bị kết thúc một cách đột ngột. Và cũng như triết lý trên kia, bạn không mong muốn LỖI xảy ra, nhưng bạn nên hiểu và phân biệt được các dạng LỖI trong Java, để có thể cung cấp cho ứng dụng một kịch bản đủ mạnh để vượt qua được LỖI mà không bị kết thúc một cách đột ngột, chí ít là cũng có thể thông báo một nội dung rõ ràng về tình trạng LỖI, hơn là để họ loay hoay với cái chức năng mà ứng dụng của bạn đã mất khả năng kiểm soát.

Java Bài 36: Lớp Wrapper

Bài học hôm nay đưa chúng ta ngược về quá khứ, để bổ sung thêm kiến thức còn khá “mộc mạc” ở một bài học khi đó. Quá khứ ở đây là lúc mà chúng ta còn đang làm quen với các kiểu dữ liệu nguyên thủy của Java. Lúc bấy giờ bạn đã biết Java có 8 kiểu nguyên thủy, chúng bao gồm int, short, long, byte, float, double, char và boolean. Bạn có thể xem lại toàn bộ bài học số 4 để biết rõ thông tin về các kiểu dữ liệu này.

Hôm nay bạn sẽ được làm quen với các lớp có tên là Wrapper. Để xem các lớp này giúp bổ sung gì cho các kiểu dữ liệu nguyên thủy vừa được liệt kê trên đây nhé.

Java Bài 35: Lớp Vô Danh (Anonymous Class)

Bài học hôm nay chúng ta sẽ đến với một cách sử dụng lớp và đối tượng bên trong Java một cách thú vị hơn. Thông qua bài học bạn sẽ biết được rằng, không phải lúc nào cũng cứ phải khai báo một lớp rõ ràng rồi sử dụng nó thông qua các khai báo đối tượng từ lớp đó. Bạn có thể tạo ra đối tượng thoải mái từ một lớp mà chẳng ai biết là đối tượng đó thuộc lớp nào cả.

Sau bài học, bạn sẽ biết cách sử dụng lớp trong Java một cách linh động hơn, ngắn gọn hơn, và nếu nhìn quen mắt thì sẽ còn thấy dễ hiểu hơn đấy. Mời các bạn cùng đến với bài học hôm nay.

Java Bài 34: Lớp Lồng

Đọc đến tiêu đề chắc hẳn bạn đã biết nội dung mà bài học hướng đến rồi. Đó chính là kiến thức về việc khai báo một lớp ở bên trong một lớp khác. Đây không phải là quan hệ cha-con gì nhé, do đó nó không phải là kế thừa, nó chỉ là một lớp được khai báo bên trong lớp khác mà thôi. Vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem việc lồng các lớp vào với nhau là gì và tại sao lại làm như vậy nhé.

Java Bài 33: Interface

Vâng, hôm nay chúng ta sẽ nói về interface. Nhưng bạn hãy dừng việc tưởng tượng rằng chúng ta đang nói đến việc làm sao xây dựng một giao diện cho ứng dụng Java. Tuy interface có nghĩa là giao diện, nhưng giao diện mà bạn đang nghĩ tới thì người ta gọi là UI cơ.

Vậy interface là gì nếu nó không phải là giao diện? Mời bạn đọc tiếp bài học hôm nay. Trước hết, để có thể hiểu bài viết về interface này, bạn nhất định phải đọc và hiểu khái niệm trừu tượng (abstraction) là gì trước.

Vì kiến thức về interface khá nhiều, mình cũng không chắc có thể nói hết tất cả các vấn đề của interface vào một bài viết hay không. Mình sẽ cố gắng trình bày nhiều nhất và rõ ràng nhất có thể, để bạn nắm được khái niệm và cách khai báo, sau này khi bạn bước qua lập trình ứng dụng Android, bạn sẽ hiểu rõ hơn về công dụng thực tế của interface.